Đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nguy hiểm

Tác giả: Trần Minh Phượng. Ngày đăng: 07-05-2017

Phần lớn các trường hợp đau lưng dưới đặc hiệu không phải do một bệnh lý hay vấn đề nghiêm trọng, nó có thể chỉ là do bong gân hoặc vấn đề về đĩa đệm giữa hai đốt sống.

Khoảng 8 trong số 10 người có một hoặc nhiều cơn đau lưng dưới (đau thắt lưng) trong cuộc đời. Hầu hết các trường hợp đau lưng dưới không phải do một bệnh lý hoặc vấn đề nào đó nghiêm trọng, và nguyên nhân chính xác thường không rõ ràng, đây được gọi là đau lưng dưới không đặc hiệu. Trong hầu hết các trường hợp, cơn đau sẽ biến mất trong vòng sáu tuần nhưng có thể tái phát theo thời gian.

Đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nguy hiểm hình ảnh 1

Lưng dưới được tạo thành từ các cơ gắn vào và bao xung quanh cột sống. Cột sống được tạo thành từ nhiều xương gọi là đốt sống hay xương sống. Các đốt sống thì khá tròn và giữa các đốt sống là đĩa đệm. Các đĩa đệm này bao gồm vòng xơ bao xung quanh và chính giữa là nhân nhầy, chất mềm giống như gel. Các đĩa đệm giúp hấp thu chấn động và cho phép cột sống hoạt động linh hoạt.

Các dây chằng rất chắc chắn bao quanh cột sống hỗ trợ và tăng thêm sức mạnh cho cột sống. Các cơ khác nhau được gắn vào cột sống cho phép cột sống có thể uốn cong và di chuyển theo các hướng khác nhau.

Cột sống bảo vệ cho tủy sống (Bên trong tủy sống có chứa đường dẫn truyền thần kinh đến và đi ra từ não bộ). Các dây thần kinh tủy sống đi ra từ giữa các đốt sống để lấy và nhận thông tin đến các bộ phận khác nhau của cơ thể.

Đau lưng dưới có thể là do bong gân của dây chằng

Đau lưng không đặc hiệu có nghĩa là cơn đau không phải do bệnh lý cụ thể nào có thể được tìm thấy. Người ta cho rằng trong một số trường hợp, nguyên nhân có thể là do bong gân (căng quá mức) của một dây chằng hoặc cơ vùng thắt lưng. Trong trường hợp khác thì nguyên nhân có thể là vấn đề của đĩa đệm giữa hai đốt sống, hay của một khớp nhỏ giữa hai đốt sống. Có thể có những vấn đề trong cấu trúc và mô vùng thắt lưng dẫn đến đau. Tuy nhiên, những nguyên nhân trên của cơn đau không thể chứng minh bằng thực nghiệm. Do đó, bác sĩ không thể nói chính xác nơi đau từ đâu đến, hoặc chính xác cái gì đang gây ra cơn đau, mặc dù vậy đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nghiêm trọng.

Triệu chứng của đau lưng dưới ra sao?

Đôi khi một cơn đau có thể xuất hiện ngay sau khi bạn nhấc một vật nặng, hoặc sau một cử động  xoay người. Đôi khi nó có thể xuất hiện mà không có lý do khởi phát rõ ràng. Một số người bị đau lưng dưới chỉ sau một đêm ngủ dậy.

Mặc dù đau lưng dưới không đặc hiệu đôi khi được gọi là đau lưng dưới đơn giản, tuy nhiên đơn giản không có nghĩa là cơn đau nhẹ. Mức độ nghiêm trọng của các cơn đau có thể từ nhẹ đến nặng. Thông thường, cơn đau ở khu vực phía thắt lưng , nhưng đôi khi đau lan đến một hoặc cả hai mông hoặc đùi. Cơn đau thường được giảm nhẹ bằng cách nằm dài người. Cơn đau thường trở nên tồi tệ hơn nếu bạn đi lại, ho, hoặc hắt hơi. Vì vậy, đau lưng không đặc hiệu là đau cơ học thay đổi theo tư thế hoặc vận động.

Hầu hết cơn đau lưng dưới không đặc hiệu cải thiện nhanh chóng, thường là trong vòng một tuần hoặc có thể đôi khi lâu hơn. Tuy nhiên, một khi cơn đau đã giảm hoặc hết, thường sẽ có những cơn đau xuất hiện lại  theo thời gian trong tương lai.  Trong một số ít trường hợp, cơn đau kéo dài vài tháng hoặc lâu hơn. Điều này được gọi là đau lưng kinh niên (được thảo luận chi tiết hơn trong phần dưới).

Đau lưng dưới đặc hiệu có cần phải xét nghiệm?

Thường là không. Bác sĩ của bạn thường sẽ có thể chẩn đoán đau lưng dưới không đặc hiệu từ việc bạn mô tả  đau lưng dưới, và khám bạn. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, xét nghiệm không cần thiết. Không có xét nghiệm có thể chứng minh hoặc xác nhận đau lưng không đặc hiệu. Trong thực tế, một số bác sĩ cho rằng các bài kiểm tra thực sự có thể làm hại nhiều hơn lợi khi chẩn đoán là đau lưng không đặc hiệu. Ví dụ, các thuật ngữ kỹ thuật được sử dụng để báo cáo về chụp MRI đôi khi gây ra báo động, trong khi thực tế kết quả MRI cho biết những gì sẽ là bình thường đối với một độ tuổi nhất định và không phải là một nguyên nhân gây ra đau đớn.

Hướng dẫn hiện nay ở Anh  khuyến cáo các xét nghiệm thường quy như X-quang và chụp MRI  KHÔNG cần thực hiện nếu được chẩn đoán đau lưng dưới không đặc hiệu.

Các xét nghiệm như X-quang, MRI hoặc xét nghiệm máu có thể được khuyên trong các tình huống nhất định. Chủ yếu khi  có triệu chứng hoặc dấu hiệu mà các bác sĩ thấy rằng có thể là một nguyên nhân tiềm ẩn nghiêm trọng của bệnh đau lưng.

Lời khuyên giúp chữa đau lưng dưới

Đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nguy hiểm hình ảnh 2

Vận động càng nhiều càng tốt là lời khuyên giúp cải thiện tình trạng đau lưng dưới. Đừng đợi cho đến khi hết đau mà hãy vận động ngay sau khi bạn có thể, và trở lại các hoạt động bình thường càng sớm càng tốt. Thiết lập một mục tiêu mới mỗi ngày có thể là một ý tưởng tốt. Ví dụ, đi bộ xung quanh nhà trong ngày đầu, đi bộ đến các cửa hàng trong ngày tiếp theo…

Nên ngủ ở vị trí tự nhiên thoải mái nhất. Hãy thử kẹp một cái gối nhỏ giữa hai chân khi nằm ngủ nghiêng một bên giúp giảm bớt các triệu chứng vào ban đêm.

Nếu bạn cần uống thuốc giảm đau, tốt nhất là uống liên tục. Điều này tốt hơn so với việc uống bây giờ và uống lại khi cơn đau trở nên nặng hơn. Nếu bạn uống thuốc giảm đau thường xuyên, cơn đau có nhiều khả năng sẽ được nới lỏng và cho phép bạn tập thể dục và duy trì vận động.

-         Paracetamol thường là đủ nếu bạn uống nó thường xuyên và đúng liều. Đối với người lớn là mỗi lần 1000 mg (thường là hai viên 500 mg), bốn lần một ngày.

-         Thuốc giảm đau kháng viêm. Một số người thấy rằng thuốc giảm đau kháng viêm hoạt động tốt hơn so với paracetamol. Chúng bao gồm ibuprofen mà bạn có thể mua tại các hiệu thuốc hoặc siêu thị không cần toa bác sĩ. Các loại khác như diclofenac hoặc naproxen cần toa bác sĩ. Một số người cần lưu ý khi dùng kháng viêm khi bị bệnh hen suyễn, huyết áp cao, suy thận, suy tim.

-         Thuốc giảm đau mạnh hơn như codein là một lựa chọn nếu kháng viêm không phù hợp hoặc không làm bớt đau. Codeine thường được đưa thêm vào paracetamol. Táo bón là một tác dụng phụ phổ biến từ codeine. Điều này có thể làm cho đau lưng tồi tệ hơn nếu rặn nhiều khi vào nhà vệ sinh. Để ngăn ngừa táo bón, cần uống nhiều nước và ăn thực phẩm có nhiều chất xơ.

-         Chất giãn cơ như diazepam được kê thuốc cho vài ngày nếu các cơ bắp bị căng và làm cho cơn đau nặng hơn. Diazepam là một trong nhóm thuốc benzodiazepine có thể gây tình trạng lệ thuốc và cần được uống trong một thời gian càng ngắn càng tốt.

Tra cứu khác

Tra cứu liên quan

Bệnh thoái hóa khớp gối nếu phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế

Khi bị thoái hóa khớp gối người bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong vận động, đi lại, giảm chức năng sinh hoạt hằng ngày từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu phát hiện sớm có thể phần nào ngăn ngừa quá trình thoái hóa và hạn chế tàn phế xảy ra.

Viêm cột sống dính khớp

Là loại viêm khớp ảnh hưởng đến khớp cùng chậu (sacroiliac) và cột sống. Các triệu chứng bao gồm đau và cứng khớp, thường bắt đầu ở lưng, sau đó có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cột sống từ cổ trở xuống. Xương cột sống có thể dính với nhau, khiến cột sống trở nên cứng nhắc. Những thay đổi này có thể nhẹ hoặc nặng.

Gãy xương mắt cá chân

Mắt cá chân là một phần phức tạp có chứa xương chày, xương mác và xương sên. Dây chằng giữ cho xương mắt cá chân cố định tại chỗ. Gãy xương mắt cá chân phức tạp gây rách dây chằng và có thể khiến khớp mắt cá chân biến dạng. Những gãy xương phức tạp thường phải phẫu thuật. Nếu da bị tổn thương (như trong một gãy xương mở hoặc hợp chất) phẫu thuật và thuốc kháng sinh thường được yêu cầu. 

Thoái hóa khớp háng

Thoái hóa khớp (hư khớp) là bệnh phổ biến nhất của khớp háng. Hậu quả của thoái hóa khớp háng là lớp sụn nhẵn bóng bao bọc đầu chỏm xương đùi và mặt trong của ổ cối bị mòn dần, đến lúc mất hết lớp sụn, bệnh nhân đau, đi lại rất khó khăn. Thoái hoá khớp háng có thể nguyên phát hoặc thứ phát. Thoái hóa khớp háng nguyên phát thường gặp ở người trên 50 tuổi, thường do quá trình thoái hóa tự nhiên của cơ thể

Thoát vị bẹn (Thoát vị háng)

Thoát vị là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài ổ phúc mạc trong một túi thừa phúc mạc gọi là “túi thoát vị” qua các điểm yếu tự nhiên của thành bụng. Các điểm yếu này có thể là bẩm sinh hay mắc phải, gây ra chỗ phình ở bẹn hoặc bìu. C

Đau khớp dữ dội – Một trong những dấu hiệu bệnh gút điển hình

Đau khớp dữ dội – Một trong những dấu hiệu bệnh gút điển hình. Bệnh gút tuy không nguy hiểm đến tình mạng nhưng lại gây ra những cơn đau khớp dữ dội. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh gút sẽ giúp có biện pháp ngăn chặn và điều trị kịp thời căn bệnh.

Đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nguy hiểm

Phần lớn các trường hợp đau lưng dưới đặc hiệu không phải do một bệnh lý hay vấn đề nghiêm trọng, nó có thể chỉ là do bong gân hoặc vấn đề về đĩa đệm giữa hai đốt sống.

Những điều cần biết về bệnh viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh rối loạn tự miễn, xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công nhầm vào mô của chính cơ thể bạn. Không những vậy bệnh viêm khớp dạng thấp còn có thể ảnh hưởng đến các phần khác của cơ thể như da, tim, phổi và mạch máu.

Điều trị loãng xương sớm giúp ngăn ngừa gãy xương

Loãng xương là tình trạng xương giòn, mỏng, dễ gãy kể cả khi không bị chấn thương. Nếu không điều trị loãng xương, theo thời gian bạn sẽ bị giảm dần chiều cao và đau lưng.

Gãy xương cẳng chân

Cẳng chân là phần nối giữa đầu gối và mắt cá chân. Cẳng chân được tạo thành từ hai xương được gọi là xương chày và xương mác. Xương chày là xương rất khỏe, nằm dọc bên trong cẳng chân, trong khi xương mác mỏng hơn rất nhiều và nằm ở phía ngoài.

Gãy xương đùi

Xương đùi là một xương có sự chống đỡ đặc thù đối với mọi chấn thương do cấu trúc giải phẫu của nó. Vì là một xương lớn có nhiều cơ mạnh bám vào nên gãy xương đùi thường do chấn thương mạnh như ngã từ trên cao xuống hoặc tai nạn giao thông và dễ gặp ở người bị loãng xương. Điều trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ nghiêm trọng của chấn thương và tuổi của bệnh nhân. Gãy xương đùi có thể gây tổn hại dây thần kinh lân cận và mạch máu

Gãy xương hàm

Gãy xương hàm là chấn thương gây nứt hoặc vỡ xương hàm, phổ biến thứ ba trong các chấn thương gãy xương mặt. Nó thường là kết quả của một tai nạn xe cộ, hành hung hoặc sự cố khi chơi thể thao.

Gãy đốt sống (Gãy lưng, Gãy xương cổ)

Là tình trạng gãy các đốt sống ở cổ và lưng. Mức độ nghiêm trọng của gãy xương cột sống phụ thuộc vào vị trí và phụ thuộc vào việc có ảnh hưởng đến tủy sống hay không. Thường gặp nhất là gãy xương do đè nén xương sống ở dưới ngực và xương sống thắt lưng.

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS)

Là bệnh ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh vận động ở não và tủy sống - những tế bào thần kinh cho phép chúng ta kiểm soát cơ bắp. Bệnh thường gặp nhất sau 40 tuổi và phổ biến hơn ở nam giới. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu, mục đích điều trị nhằm giảm các triệu chứng và kéo dài sự sống. Đến giai đoạn cuối, bệnh nhân không còn khả năng thở, bị suy hô hấp và tử vong. Không rõ nguyên nhân gây bệnh ALS.

Gãy xương khớp háng

Xương đùi kết nối với xương chậu ở khớp háng. Gãy xương khớp háng hay gãy cổ xương đùi là sự đứt đoạn trong phần trên của xương đùi nơi tiếp giáp với xương chậu. Hơn 200.000 gãy xương khớp háng xảy ra mỗi năm với 50% số người trong độ tuổi 80 trở lên. Gãy cổ xương đùi là một loại gãy xương nặng, khó liền xương và thường có nhiều biến chứng, là một tai nạn nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị, bệnh nhân cần được phẫu thuật kịp thời.

Gút (gout)

Bệnh gút xảy ra do sự mất cân bằng giữa sản xuất và bài tiết acid uric, gây tăng axit uric trong cơ thể . Tinh thể acid uric tích tụ trong các khớp dẫn đến viêm khớp cấp tính. Viêm khớp xảy ra thường xuyên và ảnh hưởng đến hầu hết các ngón chân, bàn chân, mắt cá chân, đầu gối và bàn tay. Cơn đau có thể nặng ngay cả khi các khớp này chịu sự va chạm nhẹ.

Gãy xương bàn chân

Bàn chân có 26 xương, gãy xương bàn chân gây đau và sưng, ảnh hưởng đến hoạt động sinh hoạt. Đôi khi một vết nứt ở bàn chân không được phát hiện bằng hình ảnh chụp x-quang và một hình ảnh chụp cắt lớp vi tính CT scan có thể cần phải thực hiện.

Đau lưng

Đau lưng là vị trí đau hay gặp nhất, chỉ xếp sau đau đầu. Đau lưng có thể xảy ra mà không có lý do rõ ràng và tại bất cứ điểm nào trên cột sống. Vị trí đau phổ biến nhất ở thắt lưng cùng, vì đó là nơi hứng chịu phần lớn trọng lượng và áp lực

Gãy xương đòn

Xương đòn là phần nối vai với xương ức. Gãy xương đòn nặng có thể gây tổn thương dây thần kinh hoặc mạch máu của cánh tay.

Gãy xương thuyền

Xương thuyền là 1 trong 8 xương cổ tay. Các xương cổ tay được sắp xếp thành 2 hàng. Xương thuyền là quan trọng đối với chức năng bình thường & biên độ dao động của khớp vì nó đóng vai trò liên kết giữa 2 hàng xương cổ tay.

Gãy xương ngón chân

Trong hầu hết trường hợp gãy xương ngón chân có thể điều trị bằng cách đặt một thanh nẹp trên đó. Nếu xương gãy chọc thủng da (gãy xương hở) thuốc kháng sinh sẽ là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng xương (viêm tủy xương).

Gãy xương bàn tay

Có 27 xương ở bàn tay và gãy xương bàn tay là một chấn thương phổ biến. Gãy xương nặng có thể gây ảnh hưởng đến dây chằng, dây thần kinh hoặc mạch má. Nếu xương gãy chọc thủng da (gãy xương hở) thuốc kháng sinh sẽ là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng xương (viêm tủy xương).

Gãy xương sườn

Gãy xương sườn thường xảy ra sau chấn thương trước ngực, thường gặp ở người cao tuổi hoặc ở những người yếu xương. Gãy xương sườn có thể gây tổn thương phổi (tràn khí màng phổi, dập phổi). Gãy nhiều xương sườn có thể ảnh hưởng đến hô hấp và tính mạng.

Gãy xương cột sống

Là tình trạng gãy xương cột sống do cột sống bị chèn ép. Có 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống ở thắt lưng. Rối loạn này phổ biến hơn ở những người cao tuổi, người bị loãng xương. Gãy nén làm giảm chiều cao của các đốt sống.

Gãy xương cẳng tay

Cẳng tay là bộ phận của cơ thể nằm giữa khuỷu tay và cổ tay. Gãy xương cẳng tay thường gặp ở tất cả các lứa tuổi và thường xảy ra do chấn thương trực tiếp. Điều trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ nghiêm trọng của chấn thương và tuổi của bệnh nhân

Gãy xương

Xương cấu tạo bởi mô liên kết, được làm cứng chắc bởi calcium và tế bào xương. Gãy xương khi có lực tác động bên ngoài lên xương với lực mạnh hơn sức chịu đựng của cấu trúc xương. Có nhiều loại gãy xương với độ nặng khác nhau.Vùng gãy xương hay gặp là ở cổ tay, vai, cổ chân và khớp háng…

Viêm xương biến dạng (Paget)

Bệnh Paget xương (còn gọi là viêm xương biến dạng) là một rối loạn trong duy trì và phục hồi xương, dẫn đến xương bị vẹo và đôi khi bị đau. Xương khỏe mạnh trao đổi chất cho phép xương cũ tái chế thành xương mới trong suốt quá trình cuộc sống.

Gãy xương cánh tay

Gãy xương cánh tay là gãy một hoặc nhiều hơn các xương nối vai đến khuỷu tay. Đây là một dạng gãy xương thường gặp ở mọi lứa tuổi và thường xảy ra do chấn thương trực tiếp, chẳng hạn như tai nạn giao thông, bị vật nặng đè lên...

Gãy xương ngón tay

Gãy xương ngón tay là hiện tượng các xương của ngón tay bị chấn thương, gãy, dập... Các ngón tay bị gãy cần điều trị phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết thương. Gãy xương ngón tay làm ngón tay khó hoặc không thể cử động được

Gãy xương đáy sọ

Gãy xương đáy sọ là gãy một phần của nền sọ chứa não. Gãy xương đáy sọ có thể gây rách các khoang túi chứa não dẫn đến rò rỉ dịch não tủy (các chất lỏng bao quanh não và tủy sống) từ mũi hoặc tai và thường là trong suốt, không màu. Các chất lỏng thoát ra từ mũi hoặc tai và thường là rõ ràng và không màu.