Bệnh thoái hóa khớp gối nếu phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế

Tác giả: Kue Nie. Ngày đăng: 10-05-2017

Khi bị thoái hóa khớp gối người bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong vận động, đi lại, giảm chức năng sinh hoạt hằng ngày từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu phát hiện sớm có thể phần nào ngăn ngừa quá trình thoái hóa và hạn chế tàn phế xảy ra.

Khớp gối có vị trí nằm ở đầu dưới của xương đùi, đầu trên của xương chày, mặt sau của xương bánh chè và được che phủ bởi sụn khớp. Vì vậy, khi vận động, khớp được trượt trên bề mặt của các sụn này. Mặt khác khớp gối là khớp rất quan trọng, bởi vì, nó chịu lực tác động của toàn bộ cơ thể và là khớp vận động nhiều nhất so với các khớp khác, chính vì thế, nó rất dễ bị thoái hóa.

Thoái hóa khớp gối là gì?

Thoái hóa khớp gối là hiện tượng thoái hóa loạn dưỡng của khớp gối, trước hết được biểu hiện sự biến đổi ở bề mặt sụn khớp, sau đó là biến đổi ở bề mặt khớp, hình thành các gai xương, cuối cùng dẫn đến biến dạng khớp gọi là hư khớp, ảnh hưởng lớn đến vận động.

Bệnh thoái hóa khớp gối, phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế hình ảnh 1

Ở giai đoạn đầu, khớp gối chưa hư ngay do dịch trong bao khớp chưa bị ảnh hưởng nhiều (chưa hao hụt nhiều). Khi khớp bị thương tổn nhiều, làm ảnh hưởng đến bao khớp (biến đổi ở bề mặt khớp, hình thành gai xương…), dịch khớp sẽ càng ngày càng kém đi cả về lượng và chất. Vì vậy, làm cho độ ma sát giữa các đầu khớp sẽ tăng lên, trong khi lực tác động của trọng lực cơ thể vẫn  không đổi hoặc tăng lên (tăng cân, béo phì…), càng ngày mặt sụn khớp gối càng bị hao mòn dần dần, dẫn đến hẹp khe khớp ảnh hưởng đến khả năng vận động của khớp gối gây đau, vận động khó khăn. Một số trường hợp do mất sụn khớp hoàn toàn cho nên sự tiếp xúc chỉ xảy ra  giữa xương với xương nên rất đau, nhất là khi cử động, vận động cơ thể. 

Lão hóa chính là nguyên nhân chính gây thoái hóa khớp gối.

Thực ra khớp gối ở người trẻ cũng có thể bị thoái hóa do chấn thương không hồi phục gây ra. Tuy vậy, đại đa số thoái hóa khớp gối thường xảy ra ở người lớn tuổi, đặc biệt là người cao tuổi. Nguyên nhân gây thoái hóa khớp gối rất đa dạng, thường hay gặp nhất là lão hóa bởi tuổi tác, nhất là ở những người có tiền sử lao động chân tay nặng nhọc, mang vác nhiều (công nhân bốc vác…), đứng lâu do nghề nghiệp, công việc hoặc béo phì càng ngày càng tăng cân, đặc biệt là những người bị béo phì từ lúc còn trẻ, tăng dần theo tuổi tác cho đến khi già. Nhiều trường hợp thoái hóa khớp gối do bị chấn thương khớp gối (đứt dây chằng khớp gối, vỡ, nứt lồi cầu dưới xương đùi hoặc xương chày hoặc nứt, vỡ xương bánh chè…). Thoái hóa khớp gối có thể do yếu tố thuận lợi của trục chi dưới, bởi bất thường về giải phẫu (hoặc lệch sang trái hoặc lệch sang phải) hoặc do tổn thương ở khớp gối bởi các nguyên nhân do viêm nhiễm (nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp…). Ngoài ra, thoái hóa khớp gối có thể bởi chấn thương xương đùi, xương chậu (vỡ, rạn, nứt, gãy…).

Đau khớp gối chính là triệu chứng điển hình của thoái hóa khớp gối.

Đau ở khớp gối là dấu hiệu xuất hiện sớm nhất (đau quanh khớp gối hoặc chỉ đau một vài điểm) của thoái hóa khớp gối, lúc đầu đau chỉ xuất hiện nhẹ, nhất là lúc đi lại nhiều, hoặc lúc lên xuống cầu thang hoặc lên dốc. Đau thường xuất hiện vào ban đêm. Khớp gối có thể bị sưng lên do viêm hoặc do tràn dịch khớp, nếu được chọc hút dịch ra, đau sẽ giảm nhưng có thể tái phát vài ngày sau đó. Càng về sau, người bị thoái hóa khớp gối có thể bị cứng khớp, biểu hiện rõ nhất là lúc sáng sớm, lúc vừa ngủ dậy làm cho vận động khó khăn, đau khớp, nếu xoa bóp,  co duỗi, sau một thời gian ngắn, hiện tượng cứng khớp sẽ giảm, đỡ đau hơn và đi lại bình thường, nhưng ngày hôm sau có thể lại xuất hiện giống như ngày hôm trước.

Bệnh thoái hóa khớp gối, phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế hình ảnh 2

Cứng khớp là hậu quả, là thể hiện biến chứng ban đầu của thoái hóa khớp gối. Cứng khớp sẽ ngày một gia tăng làm hạn chế vận động, hạn chế gấp, duỗi khớp gối càng về sau có thể làm biến dạng khớp gối (chi dưới bên khớp gối thoái hóa bị cong, vẹo vào trong hoặc ra ngoài). Cứng khớp và biến dạng khớp càng ngày càng rõ rệt hơn, vì vậy, đi lại khó khăn, thậm chí phải dùng nạng hoặc phải có người hỗ trợ mới đi lại được.

Để chẩn đoán thoái hóa khớp gối, có thể chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính (CT), tốt hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI). Trong trường hợp sưng khớp, có thể siêu âm khớp; nếu có đủ điều kiện vô trùng tuyệt đối, có thể chọc hút thăm dò…

Cần đi khám ngay khi phát hiện dấu hiệu thoái hóa khớp gối

Khi thấy bất thường ở khớp gối nên đi khám, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp. Nguyên tắc điều trị thoái hóa khớp là giảm đau như: chiếu đèn hồng ngoại, dòng điện giảm đau, sóng siêu âm giảm đau, chườm nóng (túi chườm, khăn có nước ấm…) và tập co duỗi nhẹ nhàng, xoa bóp làm nóng khớp nhất là vào buổi sáng, lúc vừa ngủ dậy. Giảm phù nề bằng thuốc. Điều trị bằng ngoại khoa (thay khớp gối với mục đích thay sụn khớp gối) khi thật cần thiết do điều trị nội khoa không có hiệu quả. Với người béo phì cần giảm cân. Ngoài ra, người bị thoái hóa khớp gối cần tránh ngồi xổm, đứng lâu, tránh mang vác nặng, hạn chế lên xuống cầu thang, hạn chế leo dốc (miền núi). Nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý, bởi vì khi đã tuổi cao, việc tiêu hóa, hấp thu thức ăn có khó khăn hơn lúc trẻ.
Cần tránh cho khớp gối bị quá tải bởi mức độ vận động và trọng lượng quá mức bằng giảm các vận động chịu tải, giảm béo. Trường hợp cần thiết, bệnh nhân nên đi nạng 1 hoặc 2 bên.
 
Vật lý trị liệu có tác dụng giảm đau tốt, với mục đích chữa tư thế xấu và duy trì dinh dưỡng cơ ở cạnh khớp, điều trị đau gân và cơ kết hợp tăng sức mạnh của cơ. Các biện pháp bao gồm mát-xa cơ, tập vận động khớp và các biện pháp dùng nhiệt lượng (hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân...). 
 
Thay đổi nghề nghiệp của bệnh nhân nếu có thể, như lựa chọn nghề ít đi lại, ít chịu tải trọng, tìm các biện pháp cho bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.
 
Về tập luyện: Có thể tập các bài tập như chạy bộ khi khớp chưa có tổn thương Xquang, nghĩa là khe khớp vẫn còn bình thường. Chú ý tránh đi bộ nhiều trong giai đoạn khớp gối đang đau. Đây là một sai lầm mà nhiều bệnh nhân hay mắc phải. Bơi hoặc đạp xe đạp tại chỗ là các biện pháp tập luyện tốt.
 
Thuốc điều trị bao gồm các thuốc giảm đau thông thường như paracetamol hoặc paracetamol kết hợp codein (efferalgan codein). Trường hợp không đáp ứng thì dùng phối hợp thuốc giảm đau chống viêm không steroid toàn thân (uống hoặc tiêm) hoặc bôi tại chỗ; hoặc dùng corticoid tiêm nội khớp với hiệu quả tương đối tốt. Lưu ý tiêm khớp phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và tiến hành tiêm trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối.
 
Điều trị ngoại khoa thoái hóa khớp gối
 
Bao gồm nội soi khớp, đục xương chỉnh trục, thay một phần hoặc toàn bộ khớp gối. Điều trị ngoại khoa thường được chỉ định với các trường hợp khớp gối hạn chế chức năng nhiều, khe khớp hẹp nặng, biến dạng khớp hoặc đau khớp kháng lại với các phương thức điều trị nội khoa.

Bệnh thoái hóa khớp gối, phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế hình ảnh 3
 
Điều trị qua nội soi khớp: Bằng nội soi khớp gối, người ta có thể rửa khớp loại bỏ các yếu tố gây viêm, lấy bỏ các dị vật trong khớp (có thể là các mẩu sụn khớp bị bong ra, hoặc các thành phần bị canxi hóa), gọt giũa bề mặt không đều của sụn, cắt bỏ các sụn chêm bị tổn thương. 
 
Cũng thông qua nội soi khớp có thể tiến hành ghép sụn lên bề mặt của sụn bị thoái hóa. Miếng sụn ghép được lấy từ sụn lành ở chính khớp gối soi (với diện tích nhỏ, ở nhiều vị trí trên khớp sao cho không gây ra một thoái hóa khớp thứ phát mới); hoặc người ta lấy sụn ra nuôi cấy ở môi trường thích hợp bên ngoài, nhằm mục đích nhân lên các tế bào sụn; hoặc tạo ra sụn từ các tế bào gốc. Sau khi đạt được thể tích sụn nhất định sẽ đem cấy ghép vào bề mặt sụn tổn thương. Mảnh sụn ghép sẽ phát triển do được nhúng vào các vùng xương được tưới  máu. Kết quả bề mặt sụn bị thoái hóa được phủ bởi lớp sụn mới. Tuy nhiên hiệu quả đạt được của các kỹ thuật ghép sụn trên còn chưa cao, do đó chưa áp dụng rộng rãi. 
 
Đục xương chỉnh trục ở xương chày hoặc xương đùi là kỹ thuật tốt để sửa chữa các khớp bị lệch trục như khớp gối vẹo vào trong hoặc cong ra ngoài.
 
Thay khớp gối nhân tạo từng phần hoặc toàn phần: Chỉ định đối với các trường hợp thoái hóa khớp gối nặng mà các biện pháp điều trị khác không hiệu quả. 
 
Dự phòng thoái hóa khớp.
 
Để dự phòng thoái hóa khớp cần tránh ngồi các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động. Tránh các động tác mạnh, đột ngột khi mang vác hoặc lao động nặng đồng thời điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng
 
Ngay khi có triệu chứng đau vùng gối, bệnh nhân cần đi khám ngay để được chụp X-quang, phát hiện và điều trị những tổn thương ở khớp gối, ngăn ngừa bệnh âm thầm phát triển, có thể dẫn đến không đi lại được.
 
Đây là bệnh cần điều trị lâu dài, vì vậy bạn cần thực hiện theo các chỉ dẫn của bác sĩ, ngoài ra lưu ý tái khám sau mỗi đợt điều trị, bác sĩ sẽ căn cứ vào kết quả trước và sau khi điều trị để có những chỉ định tiếp theo.

Tra cứu khác

Tra cứu liên quan

Bệnh thoái hóa khớp gối nếu phát hiện sớm có thể hạn chế nguy cơ tàn phế

Khi bị thoái hóa khớp gối người bệnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong vận động, đi lại, giảm chức năng sinh hoạt hằng ngày từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu phát hiện sớm có thể phần nào ngăn ngừa quá trình thoái hóa và hạn chế tàn phế xảy ra.

Viêm cột sống dính khớp

Là loại viêm khớp ảnh hưởng đến khớp cùng chậu (sacroiliac) và cột sống. Các triệu chứng bao gồm đau và cứng khớp, thường bắt đầu ở lưng, sau đó có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cột sống từ cổ trở xuống. Xương cột sống có thể dính với nhau, khiến cột sống trở nên cứng nhắc. Những thay đổi này có thể nhẹ hoặc nặng.

Gãy xương mắt cá chân

Mắt cá chân là một phần phức tạp có chứa xương chày, xương mác và xương sên. Dây chằng giữ cho xương mắt cá chân cố định tại chỗ. Gãy xương mắt cá chân phức tạp gây rách dây chằng và có thể khiến khớp mắt cá chân biến dạng. Những gãy xương phức tạp thường phải phẫu thuật. Nếu da bị tổn thương (như trong một gãy xương mở hoặc hợp chất) phẫu thuật và thuốc kháng sinh thường được yêu cầu. 

Thoái hóa khớp háng

Thoái hóa khớp (hư khớp) là bệnh phổ biến nhất của khớp háng. Hậu quả của thoái hóa khớp háng là lớp sụn nhẵn bóng bao bọc đầu chỏm xương đùi và mặt trong của ổ cối bị mòn dần, đến lúc mất hết lớp sụn, bệnh nhân đau, đi lại rất khó khăn. Thoái hoá khớp háng có thể nguyên phát hoặc thứ phát. Thoái hóa khớp háng nguyên phát thường gặp ở người trên 50 tuổi, thường do quá trình thoái hóa tự nhiên của cơ thể

Thoát vị bẹn (Thoát vị háng)

Thoát vị là tình trạng các tạng bên trong ổ phúc mạc đi ra ngoài ổ phúc mạc trong một túi thừa phúc mạc gọi là “túi thoát vị” qua các điểm yếu tự nhiên của thành bụng. Các điểm yếu này có thể là bẩm sinh hay mắc phải, gây ra chỗ phình ở bẹn hoặc bìu. C

Đau khớp dữ dội – Một trong những dấu hiệu bệnh gút điển hình

Đau khớp dữ dội – Một trong những dấu hiệu bệnh gút điển hình. Bệnh gút tuy không nguy hiểm đến tình mạng nhưng lại gây ra những cơn đau khớp dữ dội. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu và triệu chứng bệnh gút sẽ giúp có biện pháp ngăn chặn và điều trị kịp thời căn bệnh.

Đau lưng dưới đặc hiệu thường không quá nguy hiểm

Phần lớn các trường hợp đau lưng dưới đặc hiệu không phải do một bệnh lý hay vấn đề nghiêm trọng, nó có thể chỉ là do bong gân hoặc vấn đề về đĩa đệm giữa hai đốt sống.

Những điều cần biết về bệnh viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh rối loạn tự miễn, xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công nhầm vào mô của chính cơ thể bạn. Không những vậy bệnh viêm khớp dạng thấp còn có thể ảnh hưởng đến các phần khác của cơ thể như da, tim, phổi và mạch máu.

Điều trị loãng xương sớm giúp ngăn ngừa gãy xương

Loãng xương là tình trạng xương giòn, mỏng, dễ gãy kể cả khi không bị chấn thương. Nếu không điều trị loãng xương, theo thời gian bạn sẽ bị giảm dần chiều cao và đau lưng.

Gãy xương cẳng chân

Cẳng chân là phần nối giữa đầu gối và mắt cá chân. Cẳng chân được tạo thành từ hai xương được gọi là xương chày và xương mác. Xương chày là xương rất khỏe, nằm dọc bên trong cẳng chân, trong khi xương mác mỏng hơn rất nhiều và nằm ở phía ngoài.

Gãy xương đùi

Xương đùi là một xương có sự chống đỡ đặc thù đối với mọi chấn thương do cấu trúc giải phẫu của nó. Vì là một xương lớn có nhiều cơ mạnh bám vào nên gãy xương đùi thường do chấn thương mạnh như ngã từ trên cao xuống hoặc tai nạn giao thông và dễ gặp ở người bị loãng xương. Điều trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ nghiêm trọng của chấn thương và tuổi của bệnh nhân. Gãy xương đùi có thể gây tổn hại dây thần kinh lân cận và mạch máu

Gãy xương hàm

Gãy xương hàm là chấn thương gây nứt hoặc vỡ xương hàm, phổ biến thứ ba trong các chấn thương gãy xương mặt. Nó thường là kết quả của một tai nạn xe cộ, hành hung hoặc sự cố khi chơi thể thao.

Gãy đốt sống (Gãy lưng, Gãy xương cổ)

Là tình trạng gãy các đốt sống ở cổ và lưng. Mức độ nghiêm trọng của gãy xương cột sống phụ thuộc vào vị trí và phụ thuộc vào việc có ảnh hưởng đến tủy sống hay không. Thường gặp nhất là gãy xương do đè nén xương sống ở dưới ngực và xương sống thắt lưng.

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên (ALS)

Là bệnh ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh vận động ở não và tủy sống - những tế bào thần kinh cho phép chúng ta kiểm soát cơ bắp. Bệnh thường gặp nhất sau 40 tuổi và phổ biến hơn ở nam giới. Không có phương pháp điều trị đặc hiệu, mục đích điều trị nhằm giảm các triệu chứng và kéo dài sự sống. Đến giai đoạn cuối, bệnh nhân không còn khả năng thở, bị suy hô hấp và tử vong. Không rõ nguyên nhân gây bệnh ALS.

Gãy xương khớp háng

Xương đùi kết nối với xương chậu ở khớp háng. Gãy xương khớp háng hay gãy cổ xương đùi là sự đứt đoạn trong phần trên của xương đùi nơi tiếp giáp với xương chậu. Hơn 200.000 gãy xương khớp háng xảy ra mỗi năm với 50% số người trong độ tuổi 80 trở lên. Gãy cổ xương đùi là một loại gãy xương nặng, khó liền xương và thường có nhiều biến chứng, là một tai nạn nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị, bệnh nhân cần được phẫu thuật kịp thời.

Gút (gout)

Bệnh gút xảy ra do sự mất cân bằng giữa sản xuất và bài tiết acid uric, gây tăng axit uric trong cơ thể . Tinh thể acid uric tích tụ trong các khớp dẫn đến viêm khớp cấp tính. Viêm khớp xảy ra thường xuyên và ảnh hưởng đến hầu hết các ngón chân, bàn chân, mắt cá chân, đầu gối và bàn tay. Cơn đau có thể nặng ngay cả khi các khớp này chịu sự va chạm nhẹ.

Gãy xương bàn chân

Bàn chân có 26 xương, gãy xương bàn chân gây đau và sưng, ảnh hưởng đến hoạt động sinh hoạt. Đôi khi một vết nứt ở bàn chân không được phát hiện bằng hình ảnh chụp x-quang và một hình ảnh chụp cắt lớp vi tính CT scan có thể cần phải thực hiện.

Đau lưng

Đau lưng là vị trí đau hay gặp nhất, chỉ xếp sau đau đầu. Đau lưng có thể xảy ra mà không có lý do rõ ràng và tại bất cứ điểm nào trên cột sống. Vị trí đau phổ biến nhất ở thắt lưng cùng, vì đó là nơi hứng chịu phần lớn trọng lượng và áp lực

Gãy xương đòn

Xương đòn là phần nối vai với xương ức. Gãy xương đòn nặng có thể gây tổn thương dây thần kinh hoặc mạch máu của cánh tay.

Gãy xương thuyền

Xương thuyền là 1 trong 8 xương cổ tay. Các xương cổ tay được sắp xếp thành 2 hàng. Xương thuyền là quan trọng đối với chức năng bình thường & biên độ dao động của khớp vì nó đóng vai trò liên kết giữa 2 hàng xương cổ tay.

Gãy xương ngón chân

Trong hầu hết trường hợp gãy xương ngón chân có thể điều trị bằng cách đặt một thanh nẹp trên đó. Nếu xương gãy chọc thủng da (gãy xương hở) thuốc kháng sinh sẽ là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng xương (viêm tủy xương).

Gãy xương bàn tay

Có 27 xương ở bàn tay và gãy xương bàn tay là một chấn thương phổ biến. Gãy xương nặng có thể gây ảnh hưởng đến dây chằng, dây thần kinh hoặc mạch má. Nếu xương gãy chọc thủng da (gãy xương hở) thuốc kháng sinh sẽ là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng xương (viêm tủy xương).

Gãy xương sườn

Gãy xương sườn thường xảy ra sau chấn thương trước ngực, thường gặp ở người cao tuổi hoặc ở những người yếu xương. Gãy xương sườn có thể gây tổn thương phổi (tràn khí màng phổi, dập phổi). Gãy nhiều xương sườn có thể ảnh hưởng đến hô hấp và tính mạng.

Gãy xương cột sống

Là tình trạng gãy xương cột sống do cột sống bị chèn ép. Có 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống ở thắt lưng. Rối loạn này phổ biến hơn ở những người cao tuổi, người bị loãng xương. Gãy nén làm giảm chiều cao của các đốt sống.

Gãy xương cẳng tay

Cẳng tay là bộ phận của cơ thể nằm giữa khuỷu tay và cổ tay. Gãy xương cẳng tay thường gặp ở tất cả các lứa tuổi và thường xảy ra do chấn thương trực tiếp. Điều trị tùy thuộc vào vị trí, mức độ nghiêm trọng của chấn thương và tuổi của bệnh nhân

Gãy xương

Xương cấu tạo bởi mô liên kết, được làm cứng chắc bởi calcium và tế bào xương. Gãy xương khi có lực tác động bên ngoài lên xương với lực mạnh hơn sức chịu đựng của cấu trúc xương. Có nhiều loại gãy xương với độ nặng khác nhau.Vùng gãy xương hay gặp là ở cổ tay, vai, cổ chân và khớp háng…

Viêm xương biến dạng (Paget)

Bệnh Paget xương (còn gọi là viêm xương biến dạng) là một rối loạn trong duy trì và phục hồi xương, dẫn đến xương bị vẹo và đôi khi bị đau. Xương khỏe mạnh trao đổi chất cho phép xương cũ tái chế thành xương mới trong suốt quá trình cuộc sống.

Gãy xương cánh tay

Gãy xương cánh tay là gãy một hoặc nhiều hơn các xương nối vai đến khuỷu tay. Đây là một dạng gãy xương thường gặp ở mọi lứa tuổi và thường xảy ra do chấn thương trực tiếp, chẳng hạn như tai nạn giao thông, bị vật nặng đè lên...

Gãy xương ngón tay

Gãy xương ngón tay là hiện tượng các xương của ngón tay bị chấn thương, gãy, dập... Các ngón tay bị gãy cần điều trị phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết thương. Gãy xương ngón tay làm ngón tay khó hoặc không thể cử động được

Gãy xương đáy sọ

Gãy xương đáy sọ là gãy một phần của nền sọ chứa não. Gãy xương đáy sọ có thể gây rách các khoang túi chứa não dẫn đến rò rỉ dịch não tủy (các chất lỏng bao quanh não và tủy sống) từ mũi hoặc tai và thường là trong suốt, không màu. Các chất lỏng thoát ra từ mũi hoặc tai và thường là rõ ràng và không màu.